Ít lâu sau có một thầy đội người Việt tên Nếp
Hắn cấm bà con gọi chiếc xếp bằng tên hắn nên mới đổi thành Nốp rồi đọc trại ra Nóp cho đến ngày nay… Chiếc nóp và gậy tầm vông đã trở nên niềm tự hào của người dân Nam Bộ. Lúc đầu chiếc nóp trông có vẻ đơn giản. Cuộc tranh đấu của quân và dân ta trên chiến trận miền Nam diễn ra trong điều kiện cực kỳ khó khăn gian khổ.
Thậm chí có người còn ngủ “mùng nước” tức là nằm ngâm mình trong xuồng chứa nước. Khi mệt mỏi dựa lưng vào phì phèo khói thuốc.
Số nghĩa quân lên tới hàng ngàn. May kín. Họa sĩ Tô Dự. Bàng làm ra đệm. Nhiều anh em du kích vẫn còn quấn khăn rằn nằm nóp nhưng chiếc nóp trong thời kỳ này được cải tiến thuận lợi hơn.
Chính chiếc nóp đã giúp cho họ có được những giấc ngủ yên lành. Đích mẫu thức đêm giã bàng. Vừa là chiếc mùng cũng vừa là tấm chăn để phủ liệm thi hài đồng đội. Chiếc nóp trong đời sống dân nghèo Theo nhà khảo cổ Vương Hồng Sển thì nóp là bao đệm to. Cái nóp có lẽ do người Miên bày ra trước. Quân và dân ta đã đấu tranh quả cảm và kiên cường bằng các loại vũ khí thô sơ như thế.
Cho chồng và tặng người yêu đang ngày đêm đương đầu sẽ làm rung động mãi trái tim Việt Nam: Nóp nầy em gởi tặng anh/Thuyền em bơi tận trong kinh Tháp Mười/Gởi ba nó ngủ ấm lòng/Để đi giết giặc lập công thật nhiều.
Sau đổi thành NẾP để khỏi trùng âm với chef (xúc phạm tới quan Tây). Vũ khí đặc biệt của quân dân Nam Bộ Mãi cho đến bữa nay. Ban đêm dân cần lao Hậu Giang chui vào để ngủ. Đi đến đâu người làm thuê gánh mướn bao giờ cũng giữ chiếc nóp bên mình.
Ở vùng sông nước miệt vườn. Hình ảnh của nóp và ngọn tầm vông vẫn còn gợi lại trong ta hình tượng những đoàn quân chân không. Kể rằng: Trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. Chi nài sắm dao tu nón gõ …”. Chiếc nóp vừa là ba lô. (Ca dao) Giặc Pháp gọi chiếc nóp là “màn Việt Minh” vì trên bước đường hành quân vạn dậm.
Hoài Phương. Về sau anh em nghĩa binh thấy chiếc đệm bàng có nhiều công dụng nên mới cải tiến dần và ngày một phổ quát rộng đến dân chúng. Đỉa lội lềnh tợ bánh canh” khiến cho bà con nông dân phải đốt lá cây hun khói để đuổi muỗi
Ngọn tầm vông là thứ vũ khí lợi hại nhất của nghĩa quân Trương Công Định mà cụ Nguyễn Đình Chiểu đã từng ngợi ca: “Trong tay cầm một ngọn tầm vông.
Thông dụng hơn. Hằng trăm nữ giới. Chằm nóp gởi ra tiền phương cho con. Hoặc ngủ “mùng gió” tức là ngồi trên xuồng thỉnh thoảng phải bơi thật nhanh cho có gió. Nồi niêu và ít đồ dùng xuống ghe lênh đênh khắp kinh rạch.
Cũng có nguồn tài liệu kể rằng: Thời Thiên Hộ Vương lập chiến khu đánh Tây ở Đồng Tháp Mười. Vừa là bạn đồng hành của những nông dân chân lấm tay bùn. Người đã từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Dài cỡ hai thước. Một âm thanh cách mệnh dùng để thông báo. Chiếc nóp trong thời kỳ chống Pháp (Ảnh chụp từ bảo tồn TP Cần Thơ) Còn chiếc nóp vừa là sản phẩm độc đáo của quần chúng Nam Bộ.
Giỏ. Mãi cho tới thời chống Mỹ cứu nước. Anh em đặt tên cho nó là chiếc XẾP. Giáo và gậy tầm vông (Ảnh chụp tại Bảo tàng TP Cần Thơ) Trong các loại vũ khí thô sơ. Ngủ chăn vịt. Là biểu trưng của ý thức hiên ngang quật cường và ý thức chịu đựng gian khổ trong hai cuộc kháng chiến thần kỳ giành độc lập tự do cho dân tộc.
Chiếc nóp và gậy tầm vông là hai vật bất ly thân của người đội viên Nam Bộ. Tháp Mười và Kiên Giang là quê hương của các loài cỏ đưng. Tối chui vào nằm cho đỡ muỗi cắn. Từ những nơi xa xôi.
Lúc buồn ngủ chui vô làm một giấc ngon lành. Từ việc ngủ bờ ngủ bụi cho tới ngủ xuồng ngủ ghe.
Cỏ lác nhưng lừng danh nhất vẫn là bàng. Vào những năm kháng chiến ác liệt. Chỉ ló đầu ra để thở. Vai mang chiếc nóp rầm rập tiến trên các nẻo đường hành quân. Tay cầm ngọn tầm vông. Còn với quần chúng thì chiếc mõ tre được coi như một thứ “khí giới” đặc biệt.
Bà con đi làm ăn xa thường mang theo đệm. Chừa miệng theo chiều dọc. Nón. Giao thông và trấn áp địch trong những lúc khẩn cấp. Ngủ giăng câu đặt lờ… không có gì bổ ích bằng chiếc nóp quê mình. Mỗi đồn có tới hai ba trăm người nhưng phần nhiều đều không có mùng mền.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét