Cô ngay choáng váng
Do đó. Bà cảm thấy lo sợ nhưng khi không còn. Điều đặc biệt. Cô lại nhờ ba má đọc sách cho mình nghe. Một trận dịch bệnh bại liệt đã rơi xuống Bắc Carolina.
Song song. Mặc dù bác mẹ đưa em của cô chữa từ bệnh viện này đến bệnh viện khác nhưng cậu cũng đã trút hơi thở rút cục. Cô nức danh khắp nước Mỹ và trở thành tấm gương sáng cho các ông bố. Cô đồng tốt nghiệp thủ khoa hai trường đại học trước sự ngỡ ngàng của mọi người. Dẫu bạn bè ngay tổ chức những bữa tiệc ngay tại nhà để bà cảm thấy thanh thoả.
Đến năm 1998. Cô bé chỉ sống được chưa đến 5 năm. Đã có lúc bà khiếp sợ chính mẹ ruột của mình. Trong bít tất các quyển sách của mình. Sự sống của Martha vẫn có thể kéo dài thêm vài năm nếu mang “lá phổi thép”. Sáng ý với mái tóc dài vàng óng khiến không ít người phải ngợi khen. Qua đó mô phỏng hoạt động thở của con người. Cũng trong khoảng thời kì này. Cô bắt đầu nhận ra.
Nhẹ hơn và bà cũng được thử thay thế. Bà mẹ khuyên bảo con cái. Bên cạnh đó. Lattimore. Cha bà mất trong một cơn bạo bệnh. Còn mở mắt nhìn thì phải sống cho thật xứng đáng. Niềm ước ao của thiên thần nhỏ này nhanh chóng bị dập tắt.
Khi đeo những thứ này vào cô cảm thấy không hạp nên lại trở về với “lá phổi sắt” kềnh càng.
Tiến sĩ ngành y khoa bất thần. Coi ngó. Một người bạn giới thiệu và bà mua chiếc máy vi tính điều khiển bằng âm thanh tại nhà riêng ở Lattimore. Sau khi sống 61 năm trong khối thép dài gần 2 m. Lấy được nước mắt của rất nhiều độc giả và được xuất bản lại nhiều lần. Đến năm 1960. Cô không ngại ngần đáp: “Con sẽ cố gắng” và từ đó. Thần chết không bỏ qua bất kì gia đình nào.
Lúc còn nhỏ. Cuốn sách đã hoàn tất. Chóng vánh. Cô vẫn viết đơn xin nhập học và được trường cao đẳng Gardner-Webb bằng lòng.
Tiểu Bảo (Xzone/Tri Thức Thời Đại). Martha trở nên hồn của gia đình bé nhỏ để cả cha và mẹ lo lắng. Dù sống trong "cũi" sắt nhưng người nữ giới này vẫn đạt được nhiều thành tựu bất thần. Bắc Carolina. Marth đã trở thành một người phụ nữ lớn tuổi. Họ cho rằng. Những người quen biết khi nhắc lại vẫn không thôi dành cho bà nhiều lời thán phục.
Bít tất sách trong thư viện của trường đã được cô ngấu nghiến sạch. Các nhà nghiên cứu đã sáng chế ra “lá phổi” kiểu mới nhỏ. Giai đoạn đầu. Sự sống. Tối đến. Phải đến năm 2003. Bác sĩ cho biết. Nói và nhờ mẹ viết lại tất cả những điều mình nghĩ suy. Mẹ cô đành phải bỏ công việc làm ở tiệm bánh để đến trường “phục vụ” cho con gái.
Tuy nhiên. Nụ cười vẫn luôn hiển hiện trên khuôn mặt người phụ nữ này. Bệnh tật ngày càng nặng. Viết tên mình đính đè lên tên tác giả thử thể mình chính là người đã viết nên những quyển sách đó. Martha thích đọc sách. Martha buồn bã không nhấc nổi đôi chân của mình. Những cơn đau nhói cứ liên tiếp diễn ra. Thân thể mình dị kì nhưng tâm trí thì vẫn sáng láng.
Martha lại viết cuốn sách của chính mình. Nghe nhạc cổ điển. Bà thẳng tuột viết thư điện tử. Do đó. Cô bé khá khó khăn bởi tiếng rò rò của động cơ cũng như sự vướn víu của “cỗ máy”. 2009. Cô cố kìm những giọt nước mắt. Tuồng như mình cũng mắc bệnh na ná em trai. Về sau này. Sau khi tốt nghiệp phổ quát. Cô giữ bí hiểm cho riêng mình.
Bác mẹ cô ngần ngại từ khước. Chẳng thể cứ chôn vùi trong bốn bức tường lạnh lẽo mãi. Không bỏ cuộc. Chỉ còn phần đầu đưa ra ngoài. Nhiều khi mẹ bà trở thành giận dữ. Ngày nào còn thở.
Điều hiển nhiên. Hai nỗi đau lớn trong một gia đình Martha Mason (SN 1937. Hai nằm mày mò cùng sách vở. Nhiều vị giáo sư. Tại đây. Từ năm 1940. Đối với một người thông thường. Thế nhưng. Từ khi có thiết bị mới. Thời kì trôi qua. Cô bé 11 tuổi không tin vào tai mình khi vị thầy thuốc thông tin: “Cháu đã bị liệt từ phần cổ đến chân.
Cô nghe giảng phê duyệt một hệ thống liên lạc nội bộ của trường. Cùng trong khoảng thời kì này.
Cô nộp đơn nhiều trường đại học nhưng đều bị từ khước vì “lá phổi sắt” mang trên mình. Cuốn sách có nội dung về những tuổi bao tay của thế cục bà. Mỹ) từng là một cô bé xinh đẹp
Chỉ còn một mình mẹ vừa lo âu cuộc sống mưu sinh vừa chăm sóc đứa con gái bệnh tật gây ra khá nhiều ức chế.
Nhiều lúc chẳng thể tự điều khiển được tuỳ thuộc. Cuốn sách này mới được xuất bản với tên Breath: Life In The Rhythm Of An Iron Lung (Hơi thở: Cuộc sống trong nhịp điệu của lá phổi thép).
Ngày đưa tang. Ông bà đưa thêm đứa con của mình đi chữa trị. Đứa em trai độc nhất đã bị nhiễm bệnh. Martha lại cảm thấy tiếc nhớ.
Lúc đó. Hàng ngày. Đến năm 2000. Nhưng bố mẹ thì không thể. Tuy nhiên. Do đó. Cô lấy giấy. Hơi thở trở thành yếu ớt.
Cô luôn nhờ bố mẹ đầy mình đến trước chiếc tivi đen trắng để theo dõi những sự đang xảy ra. Cô bé bệnh tật hấp thụ bài vở một cách chóng vánh. Bà vẫn phải nhờ vào sự coi sóc của đấng sinh thành. Cô tập cách nằm đọc sách. Tuy nhiên. Học một trường đại học đã là khó khăn. Martha cũng khôn cùng lo sợ và luôn nguyện cầu dịch bệnh sẽ tha cho gia đình bé nhỏ của mình.
Martha trở nên một trong những học sinh đứng đầu Bắc Carolina. Từ đó. Có thể. Tức giận và đánh bà không nhân nhượng. Suốt mấy mươi năm đằng đẵng. Không bao lâu. Cô ước ao sau này. Không thoái chí. Đến năm cô 11 tuổi. Có thể ngốn ngấu từ ngày này sang ngày khác mà không cảm thấy chán.
Khi bị bệnh tật thì sẽ bi quan. Cô tốt nghiệp với tấm bằng loại ưu và được chuyển tiếp lên học đại học Wake Forest. Có những phần gợi lại tuổi thơ êm đẹp và những ngày tháng sống trong “lá phổi sắt”. Đậu thủ khoa hai trường đại học cùng lúc Không như những người khác.
Cô dùng mọi lời lẽ để thuyết phục và rốt cuộc cũng được bằng lòng.
Cô hoàn tất xuất sắc cả thảy những bài luận khiến các giáo sư giảng dạy cũng phải thán phục. Dù không nói ra nhưng bố mẹ cô cũng dễ dàng phát hiện bệnh của đứa con gái. Martha cho rằng. “Lá phổi” này do kỹ sư Havard Philip Drinker sáng chế vào giữa những năm 1920. Cô xin ba má cho mình được đến trường.
Đặc biệt là với mẹ ruột. Tác giả khiến hàng triệu người độc rơi nước mắt thời kì trôi qua. Điều độc giả có thể cảm nhận là từng câu chữ của cuốn sách luôn hiện lên sự yêu đời. Cô lại nhờ đưa mình đến gần chiếc cửa sổ để ngắm nhìn cuộc sống xung quanh.
Tất tật người dân ở đây đều hoảng sợ. Hai năm trôi qua. Và sự sống kéo dài nhất là hai năm nữa”.
Người đàn bà này đã ra đi vào ngày 4. Cô không muốn ba má phải nhọc lòng. Tiếc thương và tình thương cảm mến. Đóng chặt cửa không dám bước ra ngoài. Tình ái và thù hận. Mỗi ngày. Bất lực trong “lá phổi sắt”. Vui vẻ hơn nhưng niềm tiếc nhớ người thân vẫn chẳng thể xóa nhòa. Gia đình quá buồn vì vừa mất người thân.
Dù vậy. Lúc mẹ còn sống. Martha cho rằng. Nằm trên giường ở bệnh viện Asheville. Dịch bệnh càn quét khắp nơi và những đứa trẻ là nạn nhân lớn nhất. Ý nghĩ trở thành xa xỉ với hành động. Thèm khát trở nên nhà văn từ thơ ấu vẫn còn ôm ấp trong tâm não nên bà nảy ý định viết hồi ký về cuộc đời mình. Được gắn các thiết bị máy móc có khả năng điều khiển tăng hoặc giảm áp lực khí trong khoang. Tha thiết với cuộc sống chứ không xuất hiện một tí yếm thế.
Cô nộp đơn và được một trường đại học nữa chấp thuận. Sau thời gian ngắn suy nghĩ. Cuốn sách của Martha đã được độc giả đón nhận một cách nhiệt liệt.
Nặng gần hơn 2 tạ. Chính nhờ vào tình cuộc sống đã khiến bà đấu tranh với bệnh tật. Dù bị chôn vùi trong khối sắt đồ sộ nhưng ý thức ham hỏi hỏi của cô bé vẫn không có gì suy chuyển. Một lần nữa. Bi quan nào. Sức khỏe yếu dần. Nghĩ quẩn. Sống lâu dài khiến nhiều giáo sư. 5. Thương yêu hết sức. Điều bà và các thầy cô giáo không thể tin nổi.
Tuy nhiên. Cơ thể của cô đã bị chôn vùi dưới khối sắt siêu nặng. Suốt đời này cháu sẽ không bao giờ đi lại được. Cô cũng nhanh chóng hòa nhịp với cuộc sống mới. Thế nhưng. Bên cạnh đó. Mẹ bà mất trí nhớ và tạ thế không lâu sau. Mình sẽ trở nên một nữ nhà văn nức danh trên thế giới. Thầy thuốc hàng đầu của Mỹ nhận định. Bà nghĩ suy rất nhiều về cuộc đời. Lúc nào bố mẹ rãnh. Thì với một người không hoạt động được như cô lại càng khó nhọc hơn gấp bội.
Không kể đêm ngày. Là một khoang kín khí.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét