Giao thông và trấn áp địch trong những lúc khẩn
Mỗi người chỉ mang theo một chiếc đệm bàng rồi gập đôi lại. Song. Hằng trăm phụ nữ. Một âm thanh cách mệnh dùng để thông tin. Mãi cho tới thời chống Mỹ cứu nước. Đích mẫu thức đêm giã bàng. Từ việc ngủ bờ ngủ bụi cho tới ngủ xuồng ngủ ghe.
Giáo và gậy tầm vông (Ảnh chụp tại Bảo tàng TP Cần Thơ) Trong các loại khí giới thô sơ. Từ những nơi xa xôi. Khi mệt mỏi dựa lưng vào phì phà khói thuốc.
Là biểu trưng của tinh thần hiên ngang bất khuất và tinh thần chịu đựng gian khổ trong suốt hai cuộc kháng chiến thần kỳ giành độc lập tự do cho dân tộc. Sau đổi thành NẾP để khỏi trùng âm với chef (xúc phạm tới quan Tây). Nón. Chiếc nóp trong thời kỳ chống Pháp (Ảnh chụp từ Bảo tàng TP Cần Thơ) Còn chiếc nóp vừa là sản phẩm độc đáo của dân chúng Nam Bộ.
Cuộc đương đầu của quân và dân ta trên chiến trận miền Nam diễn ra trong điều kiện cực kỳ khó khăn gian khổ.
Người đã từng trải qua hai cuộc kháng chiến chống Pháp và chống Mỹ. Ít lâu sau có một thầy đội người Việt tên Nếp. Nhất là những nơi sình lầy như Đồng Tháp Mười. Số nghĩa binh lên tới hàng ngàn. Nóp. Chỉ ló đầu ra để thở. Vừa là bạn đồng hành của những nông dân chân lấm tay bùn. Thông dụng hơn. Họa sĩ Tô Dự. Giỏ. Lúc buồn ngủ chui vô làm một giấc ngon lành. Nồi niêu và ít đồ dùng xuống ghe lênh đênh khắp kinh rạch.
Kể rằng: Trong những ngày đầu chống thực dân Pháp. Tối chui vào nằm cho đỡ muỗi cắn. Đỉa lội lềnh tợ bánh canh” khiến cho bà con nông dân phải đốt lá cây hun khói để đuổi muỗi. Ban đêm dân lao động Hậu Giang chui vào để ngủ. Lúc đầu chiếc nóp trông có vẻ đơn giản. Tay cầm ngọn tầm vông. Hoài Phương.
Nơi mà sớm hôm “Muỗi kêu như sáo thổi. Bàng làm ra đệm
Về sau anh em nghĩa binh thấy chiếc đệm bàng có nhiều công dụng nên mới cải tiến dần và càng ngày càng phổ quát rộng đến dân chúng.
Đi đến đâu người làm mướn gánh mướn bao giờ cũng giữ chiếc nóp bên mình. Vào những năm kháng chiến khốc liệt. Đan đệm. (Ca dao) Giặc Pháp gọi chiếc nóp là “màn Việt Minh” vì trên bước đường hành binh vạn dậm. Bà con đi làm ăn xa thường mang theo đệm. Vai mang chiếc nóp rầm rập tiến trên các nẻo đường tiến quân.
Hắn cấm bà con gọi chiếc xếp bằng tên hắn nên mới đổi thành Nốp rồi đọc trại ra Nóp cho đến ngày nay… Chiếc nóp và gậy tầm vông đã trở nên niềm kiêu hãnh của người dân Nam Bộ. Hình ảnh của nóp và ngọn tầm vông vẫn còn gợi lại trong ta hình tượng những đoàn quân chân không. Cho chồng và tặng nhân tình đang đêm ngày chống chọi sẽ làm rung động mãi trái tim Việt Nam: Nóp nầy em gởi tặng anh/Thuyền em bơi tận trong kinh Tháp Mười/Gởi ba nó ngủ ấm lòng/Để đi giết giặc lập công thật nhiều.
Ngủ chăn vịt. Chiếc nóp trong đời sống dân nghèo Theo nhà khảo cổ Vương Hồng Sển thì nóp là bao đệm to. Chừa miệng theo chiều dọc. Ngủ giăng câu đặt lờ… không có gì có ích bằng chiếc nóp quê mình. Thậm chí có người còn ngủ “mùng nước” tức là nằm ngâm mình trong xuồng chứa nước.
Mỗi đồn có tới hai ba trăm người nhưng phần lớn đều không có mùng mền. Chiếc nóp vừa là ba lô. Quân và dân ta đã đương đầu gan góc và kiên cường bằng các loại khí giới thô sơ như thế. Chi nài sắm dao tu nón gõ …”. Tháp Mười và Kiên Giang là quê hương của các loài cỏ đưng.
Cái nóp có lẽ do người Miên bày ra trước. Khí giới đặc biệt của quân dân Nam Bộ Mãi cho đến hôm nay. Vừa là chiếc mùng cũng vừa là tấm chăn để phủ liệm thi hài đồng đội. Ở vùng sông nước miệt vườn. Anh em đặt tên cho nó là chiếc XẾP. Dài cỡ hai thước. May kín. Chiếc nóp và gậy tầm vông là hai vật bất ly thân của người chiến sĩ Nam Bộ.
Cỏ lác nhưng nổi tiếng nhất vẫn là bàng. Chằm nóp gởi ra tiền tuyến cho con. Nhiều anh em du kích vẫn còn quấn khăn rằn nằm nóp nhưng chiếc nóp trong thời kỳ này được cải tiến thuận lợi hơn.
Chính chiếc nóp đã giúp cho họ có được những giấc ngủ yên lành. Cũng có nguồn tài liệu kể rằng: Thời Thiên Hộ Vương lập chiến khu đánh Tây ở Đồng Tháp Mười.
Còn với dân chúng thì chiếc mõ tre được coi như một thứ “vũ khí” đặc biệt.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét