Được in ra. Viết đến đây, tôi không tránh được ý nghĩ bi quan về vai trò và vị trí của văn học nói chung trong đời sống, trước sức mạnh áp đảo của các nhu cầu tăng trưởng kinh tế, vai trò của các ích lợi vật chất và giá trị của đồng tiền. Nó có mạnh hơn lên, hoặc yếu đi; có thực hành đúng với chức năng hay không thì sách in ra vẫn. Nếu có một đội ngũ phê bình ở các viện, các trường – mà ta quen gọi là phê bình hàn lâm, thì cũng cần lưu ý đến một khu vực được làm rất thẳng tuột – đó là việc viết và chấm các luận văn Thạc sĩ, luận án Tiến sĩ.
Vai trò chủ lực, làm nên dung mạo và thành quả chung của phong trào phải dành cho các đời sau, theo tôi, phải ở lứa tuổi 30 đến 40. Chăm viết, hoặc không, họ vẫn còn nhiều việc khác để làm, bởi đó là nơi họ ăn lương. Ngoài các ông chủ báo và biên tập viên báo chí, xuất bản, ngoài những người viết tự do (cho các báo chí) thì đó là sự xuất hiện lẻ tẻ, rời rạc dăm mười tăm tiếng ở một số viện nghiên cứu, hoặc các khoa văn, khoa văn hóa, khoa học từng lớp ở các trường.
Hoặc muộn lắm là 40, 50. 3. Là báo chí nên bài vở thường phải ngắn, và nội dung được đề cập cốt tử là những vấn đề ăn nhập với đời sống chính trị, xã hội nhiều hơn là đời sống văn học. Có tức thị chìm trong im lặng. Dẫu chuyên hoặc không chuyên, việc thông tin về hoạt động văn học – nghệ thuật cũng là một nhu cầu chung, phổ quát của từng lớp; và nên cũng là đối tượng cho các loại báo chí quan tâm.
Nhìn vào các lĩnh vực nghệ thuật như hội họa, âm nhạc, điện ảnh mới thấy "thương” cho văn học, khi mỗi quyển sách được in ra chỉ là 300, 500 hoặc 1000 bản mà vẫn khó bán trên tỷ lệ ngót 90 triệu dân. Ai cũng chỉ có một thời sung sức - ở tuổi ngoài 20, 30.
Trong bối cảnh đó, con người hôm nay đến với văn chương – nghệ thuật trước tiên như một nhu cầu tiêu khiển (nhìn vào đời sống âm nhạc, điện ảnh ta sẽ thấy rất rõ điều này); và như vậy thì mục đích của phê bình cũng chỉ giới hạn ở nhu cầu thông tin, quảng bá.
Và đó chính là nơi diễn ra hoạt động phê bình, chỉ có điều công chúng rộng rãi ít biết đến, trừ các Hội đồng chấm; còn sản phẩm là các luận án, luận văn, sau khi bảo vệ xong đều được cất vào các kho của thư viện.
Ế!. Còn các thế hệ đi trước họ, thế hệ có một lịch sử viết gắn với các thời đoạn trước, nhiều người vừa có thẻ hội viên Hội Nhà văn vừa có học hàm Giáo sư hoặc Phó Giáo sư thì số lớn, theo tôi, họ đã không xuất hiện, hoặc không xuất hiện trong tư cách người phê bình; bởi các đời sáng tác đồng hành với họ số lớn cũng đã lên lão cả rồi (Theo thống kê gần đây nhất của Hội Nhà văn Việt Nam thì số hội viên có tuổi thọ trên 70 hiện thời là 276 người trên tổng số 966 hội viên, chiếm tỷ lệ trên 31%!).
Còn thiếu vắng nhà phê bình văn chương chuyên nghiệp 1. Và đó chính là căn nguyên cho sự im ắng, tẻ nhạt của đời sống phê bình. Và như vậy thì cái gọi là chuyên nghiệp lại rất đáng hồ nghi.
Việc đàm đạo chung quanh một tác phẩm hay, hoặc có chuyện để bàn, bởi vậy bỗng trở thành rất hiếm – kể cả trên các báo của các Hội nghề nghiệp, hoặc các viện nghiên cứu. (Câu chuyện thật là xa xăm!). Phải qua họ, hoặc nhờ vào họ mà một tác giả, hoặc một tác phẩm nào đó mới đến được với công chúng qua kênh truyền thông, trước khi có sự luận bàn, thẩm định của các giới chuyên môn.
Giờ đây, do sự phát triển của báo chí lên đến nhiều trăm tờ, thuộc đủ các loại: báo in, báo hình, báo mạng thì mặc nhiên phê bình báo chí được đưa lên hàng đầu.
Ở đây đời sống văn học đương đại rất được cập nhật; mỗi năm trên khắp các trường (thuộc khối văn hóa – nghệ thuật, khoa học từng lớp – khoa học nhân bản) có sự ra lò của hàng trăm, nhiều trăm luận văn, qua đó, dung mạo văn học hiện đại, kể cả những khu vực áp sát vào thời sự nhất vẫn được bàn và bình, khen và chê. Nếu có kéo dài thêm thì chỉ nên xem là người đồng hành, chứ Không thể, không nên là chủ lực, bởi sự bất cập của họ, và khoảng cách về nhiều phương diện giữa họ và các thế hệ trẻ bữa nay là quá rộng, quá xa.
Còn trên 50, 60 tuổi, nếu ai còn sức, còn có điều kiện để hành nghề thì lùi vào phương diện nghiên cứu lịch sử; để làm một cái cầu nối cho các đời sau đừng quên lịch sử.
Một chấn hưng cho phê bình trở về với tính chuyên nghiệp của nó có tức thị cần có một hàng ngũ – yêu nghề, tinh thông về nghề, và sống được bằng nghề. Thậm chí nếu có được giới thiệu ở một góc, hoặc nửa trang, một trang nào đó của một tờ báo chuyên hoặc không chuyên thì cũng đâu dễ gây được sự để ý – kể cả các giải này, giải nọ.
2. Cái in ra thì nhiều, nhưng đến được với bạn đọc là bao nhiêu? Cái in ra vừa để biếu vừa để bán; và cả bán và biếu có được đọc không? Chưa thấy có một điều tra tầng lớp học nào để đo đếm tác động của văn học – nghệ thuật đối với đời sống từng lớp.
Điều đó khiến cho các ông chủ báo, các nhà báo và các biên tập viên báo chí bỗng trở thành các vai diễn quan yếu trong đời sống phê bình. Như vậy, theo tôi thực trạng phê bình hiện thời gắn bó trực tiếp với hoạt động báo chí. Không biết như vậy đã đủ cho việc chấn hưng hoạt động phê bình hay chưa – đó vẫn là câu chuyện tôi không dám chắc! Bởi, trong kỷ nguyên công nghệ thông tin như bây chừ, sẽ có rất lắm bất thần diễn ra không chỉ cho phê bình mà cho tất thảy hoạt động của văn hóa đọc; trong đó phê bình chỉ là một khu vực nhỏ trong một khối cực lớn những gì có can hệ đến động thái đọc và văn hóa đọc, bên cạnh văn hóa nghe – nhìn và internet rồi sẽ chi phối gần như tuyệt đối sinh hoạt ý thức của con người!.
Bởi, phê bình chính là sự nối dài của lịch sử, trước khi trở nên lịch sử. Tất nhiên, nếu là sách hay (số này rất hiếm – và thường là sách dịch) và được lăng xê tốt thì được in nhiều hơn. Họ phải được đào tạo và giao trách nhiệm, và được tạo các điều kiện tốt cho việc thực hành các bổn phận.
Và cũng có thể còn tham gia vào dăm dự án nghiên cứu này nọ, trong các chương trình nghiên cứu của cơ quan. Một im lặng đến mênh mông. Không thể đếm xuể biết bao cuộc thi đã được tổ chức trên mọi lĩnh vực, mọi ngành nghề cùng với bấy nhiêu các hội đồng chấm giải, từ nhỏ đến lớn, từ thấp lên cao. Nhưng phê bình chuyên nghiệp là ai, và ở đâu thì cũng rất khó tìm.
Chẳng thể đếm xuể số lượng thơ, truyện, tiểu thuyết, phê bình – tiểu luận. Tính số đầu sách được in, với số đầu sách được giới thiệu trên báo – nhờ vào các mối quan hệ thân quen hoặc vị nể - thì tỷ lệ là khôn cùng bất cập.
Như vậy có thể nói, đây là thời phê bình báo chí làm nên gương mặt chủ đạo, có tác dụng thay thế hoặc lấn lướt phê bình chuyên nghiệp.
Còn phê bình trong đời sống nghiên cứu và giảng dạy ở các viện và học đường thì ít có tác động đến công chúng độc giả.
Thế nhưng chính vào lúc phê bình yếu tính chuyên nghiệp nhất thì đời sống sáng tác lại bề bộn, nhiều màu vẻ nhất. Đây là hiện tượng trước thời Đổi mới chưa hề có.
Ngoài hai loại đó, không biết cái gọi là phê bình chuyên nghiệp nằm ở đâu? Vào cái thời tất thảy mọi ngành nghề đều hướng tới chuyên nghiệp hóa, thì với phê bình lại theo chiều ngược lại.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét