Các diễn đạt của thực tiễn này khá đa dạng và phức tạp, nhưng các đặc trưng mấu chốt của nó quy về hai hoạt động đối nghịch nhau và bổ sung cho nhau
Điểm yếu căn bản trong đổi mới giáo dục thời kì qua là sự chắp vá, chúng ta sẽ gọi đó là đổi mới giáo dục 1.
Các định hướng này xuyên suốt tiến trình đổi mới giáo dục 2. Việc làm rõ vai trò của Chính phủ, của các bộ, cơ quan ngang bộ, UBND các cấp, việc hoàn thiện cơ chế phân cấp và triển khai trên diện rộng cơ chế tự chủ của các cơ sở giáo dục, cùng việc hoàn thiện bộ máy quản lý và người quản lý theo hướng chuyên nghiệp hóa là những nội dung quản lý cần được tiến tới chuẩn hóa về mặt thiết chế.
Nghĩa là giao hội giải quyết tốt việc đổi mới QLGD sẽ tạo cú hích làm chuyển động toàn hệ thống, phát huy hiệu quả đồng bộ của hệ thống giải pháp, tạo thế và lực để giáo dục nước ta tiến lên, tiếp cận trình độ tiên tiến của khu vực và thế giới.
2, 1. Tuy nhiên, có một Nguyên nhân nữa, đến nay vẫn chưa được nhận thức rõ ràng và quan tâm thấu triệt. Vai trò đột phá của đổi mới QLGD đã được nhấn mạnh từ khi bắt đầu triển khai Chiến lược phát triển giáo dục 2001-2010, nghĩa là cách đây hơn 10 năm, có điều nó chưa được làm rõ.
Đó là sự hình thành của một thực tại giáo dục mới do tác động của quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục. 0, với một mô hình phát triển mới, trong một tiếp cận tổng thể và tầm nhìn dài hạn. Thực tế mới này đòi hỏi thiết chế giáo dục trong QLNN phải được bổ sung và hoàn chỉnh.
Đó là vì để đích thực là dụng cụ hữu hiệu mở đường cho sự phát triển đúng hướng của giáo dục, QLNN về giáo dục phải có chuyển động đón đầu, thích hợp với chuyển động của thực tiễn giáo dục.
Ở nước ta, hiển nhiên đang có khoảng cách lớn giữa QLNN về giáo dục với thực tế phát triển giáo dục. Giải pháp đổi mới quản lý giáo dục có phải là vấn đề mới không? Ông có thể nói rõ hơn về vấn đề này? Thực ra, ý tưởng này không mới.
Sự thay đổi này về tiếp cận cho phép mở mang không gian giáo dục, khuyến khích các hình thức học tập đa dạng, phát huy các kho tài nguyên giáo dục mở, đẩy mạnh giáo dục trực tuyến, đặc biệt là các khóa học trực tuyến mở đại chúng (MOOC), tạo điều kiện cho mọi người được đến với giáo dục có chất lượng với chi phí thấp. Đó là chuẩn hóa về dụng cụ quản lý, bộ máy quản lý và người quản lý.
Đó là hệ thống giáo dục tụ họp vào cầu, lấy nhu cầu người học làm trung tâm. Trong đó, quan yếu nhất là đổi mới tư duy quản lý.
3. Thưa ông, ông có thể cho biết, để đổi mới cơ bản, toàn diện nền giáo dục, chúng ta phải chú trọng đến những khâu nào? TSKH Phạm Đỗ Nhật Tiến Vấn đề này đã được đàm luận nhiều. Tuy nhiên, dù tiếp cận ở bất cứ góc độ nào, giải pháp đổi mới quản lý giáo dục (QLGD) luôn được coi là khâu đột phá. Vậy trong vấn đề về hội nhập quốc tế, chúng ta phải tính tới những khả năng nào? Đổi mới QLNN về giáo dục, ở bất kỳ nước nào, luôn được coi là nhiệm vụ thẳng, liên tục của công tác quản lý.
Nếu trước kia, QLNN về giáo dục đặt trọng điểm vào chủ thể quản lý thì giờ đây trọng điểm là đối tượng quản lý, cụ thể là nhà trường, người dạy, người học, lấy sự thành công của nhà trường, sự chấp thuận của người dân làm thước đo chất lượng và hiệu quả quản lý.
0 với các phiên bản 1. Bức tranh XHH giáo dục nước ta đã trở thành rất phức tạp và sẽ càng ngày càng phức tạp trong bước chuyển đổi cơ chế hoạt động của các đơn vị sự nghiệp công lập theo hướng các đơn vị này có quyền chủ động và được khuyến khích, tạo điều kiện thuận lợi để dự thị trường. Trong đó chuẩn hóa là định hướng nhằm bảo đảm và nâng cao chất lượng QLNN về giáo dục
Cơ chế giải trình là cơ chế để quốc gia vẫn giữ được quyền kiểm soát của mình khi giao quyền tự chủ cho cơ sở giáo dục. Cách thức giải trình cốt yếu dựa vào kết quả đánh giá khách quan của cơ quan kiểm toán và cơ quan kiểm định chất lượng. Hai là hiệp tác khu vực và cộng tác quốc tế về giáo dục nhằm xây dựng không gian giáo dục chung theo cơ chế phi thương mại.
Ông có thể cho biết định hướng của bước chuyển này? Đó là định hướng chuẩn hóa, đương đại hóa, tầng lớp hóa, dân chủ hóa và hội nhập quốc tế. Xin cảm ơn ông! Minh Châu. Cơ chế này bao gồm ba thành phần: giải trình với cơ quan quản lý, giải trình với công chúng, giải trình nội bộ. Một là thương nghiệp dịch vụ giáo dục nhằm góp phần phát triển giáo dục theo cơ chế thương nghiệp.
Giáo dục hiện nay lấy nhu cầu người học làm trung tâm. Nói cách khác, với chủ trương hăng hái và chủ động hội nhập quốc tế về giáo dục, cơ chế quản lý theo nguyên tắc trao quyền và giám sát cần được cụ thể hóa một cách ứng để một mặt có sự ưu tiên trong hiệp tác quốc tế theo cơ chế phi thương nghiệp, mặt khác đảm bảo thực hiện tốt các cam kết về GATS trong giáo dục trên nguyên tắc đảm bảo chất lượng giáo dục và bảo vệ người học.
Như thế đổi mới căn bản, toàn diện nền giáo dục quốc dân sẽ là một tuổi phát triển mới về chất trong tiến trình đổi mới giáo dục. Với tiếp cận toàn hệ thống thì đổi mới quản lý nhà nước (QLGD) cũng phải là một tiến trình đổi mới cơ bản và toàn diện, liên tưởng đến mọi bộ phận của hệ thống QLGD, bao gồm: Đổi mới tư duy quản lý, đổi mới công cụ QLNN, đổi mới cơ chế QLNN, hoàn thiện bộ máy QLNN và hàng ngũ cán bộ quản lý.
Về hiện đại hóa, thực tiễn cho thấy thiết chế hiện đại đòi hỏi cơ chế trao quyền và giám sát phải đi liền với cơ chế nghĩa vụ giải trình. Cụ thể chúng ta cần phải đấu củng cố, phát triển tư duy quản lý theo pháp luật đã và đang được triển khai nhưng có sự đổi mới mạnh mẽ về định hướng, từ chỉ huy và kiểm soát sang trao quyền và giám sát.
Với việc giao quyền tự chủ thì nội dung và cách thức giải trình với cơ quan quản lý thay đổi về cơ bản. Điểm yếu đó đã dẫn tới sự lẩn quẩn trong đổi mới và bởi thế cần phải thay thế bằng đổi mới căn bản và toàn diện, tức thị đổi mới giáo dục 2. 1, 1. Nội dung giải trình tập kết vào chất lượng đào tạo và sự cam kết với nhà nước về kết quả đầu ra.
Cho nên, trong việc đổi mới QLNN về giáo dục nước ta, bên cạnh định hướng quen thuộc về việc xây dựng và ban hành các văn bản luật còn thiếu, cần nhận dạng, nghiên cứu và đánh giá thực tiễn giáo dục mới một cách thấu triệt để có sự bổ sung kịp thời trong giải pháp và lịch trình hoàn thiện thiết chế, nhằm đáp ứng những yêu cầu mới nảy từ quá trình hội nhập quốc tế về giáo dục.
Các cơ sở giáo dục phải được đặt trong bối cảnh xây dựng hệ thống giáo dục mở, trong đó các rào cản trên con đường đến với giáo dục được dỡ bỏ.
V. Vì thế, về mặt QLNN, để có những quy định pháp lý thích hợp đối với các loại hình cơ sở giáo dục khác nhau hình thành từ quá trình XHH, cần tiếp cận theo quan điểm đối tác công-tư, trong đó khu vực công và khu vực tư là đối tác đồng đẳng của nhau trong phát triển giáo dục.
Ảnh: T. Thanh Vấn đề quan trọng là chuyển từ đổi mới tư duy quản lý sang hành động quản lý.
0, từ nhà trường đến cơ quan quản lý giáo dục, từ các điều kiện đảm bảo chất lượng đến thiết chế giáo dục, cơ chế đánh giá, từ đổi mới chương trình giáo dục đến đổi mới QLNN về giáo dục. Mực “căn bản, toàn diện” đã nói rõ rằng chúng ta phải đổi mới từ điểm lên đường là tư duy giáo dục, đích giáo dục đến những thành tố tạo nên giáo dục bao gồm nhà trường, nhà giáo, chương trình giáo dục, quản lý giáo dục, cơ chế tài chính, môi trường giáo dục v.
Đổi mới QLNN theo hướng dân chủ hóa tức thị xây dựng khung pháp lý, cùng cơ chế và chính sách, để giáo dục trở nên lĩnh vực mà bất kỳ ai cũng có quyền và thời cơ tiếp cận.
Không có nhận xét nào:
Đăng nhận xét